Áo bà ba vương mùi bếp khói, thơm mùi lúa nếp trổ đòng
Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông tạo sự thoải mái cho người mặc, gần vạt áo có thêm hai túi to khá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như cặp tóc, khăn tay, diêm quẹt, tiền nong. Áo bà ba vốn là áo không cổ, được may bằng loại vải một, vải ú, vải sơn đầm…rất mau khô và dễ giặt.
Áo bà ba lung linh trên sông trăng cho lứa đôi hò hẹn. Trải qua bao biến cố lịch sử, những thăng trầm của đời sống, áo bà ba vẫn là bộ trang phục giản dị, nền, rất thích hợp với người dân chất phác, thật thà ở nơi sông nước này.
Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt. Áo bà ba buồn đìu hưu trong câu hò điệu lý từng làm nao lòng biết bao lữ hành mỗi khi đến đây… Đâu đâu cũng là sắc áo bà ba để rồi có ai đó xa quê, nghe cô ca sĩ nọ ngọt ngào ca " Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm/ thấp thoáng con xuồng bé nhỏ đến mong manh/ Nón lá đội nghiêng coi thường con sóng dữ/ Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời… ”.
Những người con xa xứ đến đây sau bao năm vẫn thấy mọi thứ thật hiền hòa, mộc mạc và quá cỡ gần gụi thân yêu.
Ngoài ra, người ta còn sáng tạo các kiểu cổ lá sen, cánh én, đan tôn. Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng Nam Bộ mà cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa. Ngược dòng lịch sử, ta thấy áo bà ba xuất hiện trước tiên ở Nam bộ thời kỳ Hậu Lê. Áo bà ba đượm mùi mồ hôi trong những vụ mùa bội thu còn rộn rã tiếng cười.
Áo bà ba len lỏi giữa chợ nổi ven sông, vắt vẻo trên cây cầu nối hai đầu nhớ thương. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro. Là lại mong được trở về ngồi xuồng ba lá, trôi bập bềnh giữa sông nước mênh mông phủ bóng tràm xanh mát… Vũ Thị Huyền.
Vẫn áo bà ba lấp ló bên dòng nước xanh, xuồng ba lá. Áo bà ba hiện không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng cho ôm sát lấy thân hình.